CS1: 0123654789 CS2: 0123654755
  • :
  • :

Giới thiệu chung

Hoạt động đào tạo

Hoạt động khoa học

Hệ thống văn bản

Thư viện

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Vận dụng một số nội dung về Văn hóa trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy bài “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam” trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị

 

                                                                    ThS. Nguyễn Thị Trà Giang

                                                                                               Trưởng Khoa Nhà nước và pháp luật

Đặt vấn đề

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan, ngày càng gia tăng mạnh mẽ, nhất là khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế dẫn đến toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về văn hóa, đòi hỏi cơ bản và cấp thiết là vừa phải bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, vừa coi trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa trên phạm vi thế giới. Việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; giữa phát triển văn hóa dân tộc và hội nhập quốc tế về văn hóa sẽ làm phong phú cho văn hóa đất nước, thúc đẩy văn hóa dân tộc phát triển.

Từ nội dung về văn hóa trong Văn kiện Đại hội XIV - Vận dụng vào giảng dạy nội dung Xây dựng, phát triển văn hóa trong bài “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam” thuộc học phần “Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam” trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị.

 Thứ nhất, vai trò của việc xây dựng, phát tiển văn hóa đối với mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội (Mục 1.2)

Về vai trò của văn hóa, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, con người là chủ thể sáng tạo, giáo dục là quốc sách hàng đầu, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất”; “Văn hóa được xem là nền tảng phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng, hệ điều tiết để phát triển đất nước”.

Bàn về văn hóa chính là “tổng hòa các giá trị người”. Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cá nhân và cộng đồng sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người. Các giá trị văn hóa dân tộc tồn tại khách quan đối với các thế hệ người được sinh ra, đó là: Tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng, ý chí bất khuất của dân tộc ta - những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam đã kết lại thành nền tảng tinh thần cho sự tồn tại của dân tộc. Đây là mạch nguồn, lẽ sống của dân tộc, là cơ sở để dân tộc ta khẳng định sự tồn tại của mình trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước; Các giá trị tiêu biểu của văn hoá Việt Nam là tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, tự cường, truyền thống nhân đạo, đề cao tính cộng đồng, cần cù, hiếu học, thông minh, trọng tình nghĩa… tạo thành truyền thống văn hóa của dân tộc. Đó chính là bộ gien di truyền văn hoá cho các thế hệ sau, tạo nên sự tiếp nối lịch sử. Nếu kinh tế là cơ sở vật chất của xã hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Chăm lo xây dựng và phát triển văn hoá chính là chăm lo vun đắp, xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hoá tinh thần lành mạnh, làm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta khẳng định: “Vai trò ngày càng nổi trội của văn hóa trong sự phát triển bền vững, văn hóa ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tạo ra những giá trị vật chất mới và chính văn hóa đang trở thành một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của nhiều quốc gia” [1, tr.302].

Vì vậy, yêu cầu khẩn trương xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Đây chính là cách chúng ta củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, chấn hưng văn hóa, góp phần quan trọng để xây dựng sức mạnh mềm, sức mạnh nội sinh phát triển đất nước “Văn hóa được xem là nền tảng phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng, hệ điều tiết để phát triển đất nước. Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, con người được xác định là chủ thể, giữ vị thế trung tâm trong chiến lược phát triển” [1, tr.302]. Điều này đặt ra yêu cầu giảng viên vận dụng vào bài giảng để phân tích sâu hơn, làm rõ hơn vai trò của văn hoá đối với sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần nâng cao nhận thức cho học viên về tầm quan trọng của phát triển văn hoá cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong bối cảnh hiện nay.

Thứ hai, Đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa (Mục 2.1)

Văn kiện Đại hội XIV một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về văn hóa đó là: “Xây dựng văn hóa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm bảo vệ, gìn giữ thuần phong mỹ tục, tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, nghĩa tình, trọng đạo lý, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức;…” [1, tr.29]. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.

Đảng ta khẳng định “Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện con người ngày càng đầy đủ, trọng tâm và thực chất. Việc phát hiện, thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài bước đầu có chuyển biến tích cực. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng hạnh phúc tang 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia” [1, tr.29].Phát triển văn hóa, con người và xã hội đạt kết quả rất quan trọng, nhiều mặt tiến bộ; an sinh xã hội được cải thiện rõ rệt; đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao”. Làm rõ nội dung này, giảng viên cung cấp cho học viên kiến thức về bối cảnh, thực trạng xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn hiện nay và định hướng một số giải pháp trong bảo tồn, xây dựng, phát triển văn hóa ở địa phương. Đây là những tư liệu quý báu để giảng viên và học viên bổ sung thêm kiến thức thực tiễn, hiểu biết sâu rộng hơn về những nét đặc sắc trong giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta, góp phần khơi dậy niềm tự hào về văn hoá dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Giúp học viên nâng cao ý thức xây dựng và phát huy gía trị văn hóa vốn có của địa phương mình, đấu tranh với các phản giá trị, phản văn hóa, phi văn hóa trong đời sống. Đồng thời, thông qua đó, giảng viên có thể được gợi mở để học viên có phương pháp để phát huy giá trị văn hóa Việt nam nói chung và địa phương nói riêng trong công tác lãnh đạo, quản lý.

Thứ ba, nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa (Mục 3.2)

Mục tiêu của xây dựng và phát triển nền văn hoá được Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” [1, tr.29]. Điểm mới ở đây là việc nhấn mạnh tính “đồng bộ trên nền tảng” của các hệ giá trị, qua đó xác lập mối quan hệ gắn kết hữu cơ giữa văn hóa và con người, giữa giá trị dân tộc và giá trị thời đại. Việc xây dựng văn hóa vì thế không chỉ hướng tới phát triển thiết chế hay hoạt động văn hóa, mà còn nhằm hình thành và củng cố hệ giá trị cốt lõi định hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

          Chủ trương: “Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hoá và con người Việt Nam ra thế giới” thể hiện rõ định hướng ngoại giao văn hóa gắn với quảng bá bản sắc dân tộc, xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế. Quan điểm này kế thừa và phát triển đường lối hội nhập văn hóa từ các kỳ Đại hội trước, song được diễn đạt mạnh mẽ, cụ thể hơn, phù hợp với bối cảnh Việt Nam chủ động tham gia các công ước văn hóa quốc tế, đồng thời tận dụng các cơ chế hợp tác và giao lưu văn hóa để quảng bá giá trị Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế đất nước trong khu vực và trên thế giới.

Như vậy, có thể thấy, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế về văn hóa đang được xác định là ba trụ cột mới trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam thời kỳ hội nhập - vừa mang tính kế thừa, vừa có tính đột phá, mở ra hướng phát triển văn hóa năng động, sáng tạo và bền vững trong kỷ nguyên số. Muốn thực hiện tốt điều đó thì cầntăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự “xâm lăng” về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng” [1, tr.28].

Văn kiện nêu rõ nhiệm vụ cần tập trung là: "Nâng cao đời sống văn hóa, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân; chú trọng phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số" [1, tr.27]. Đây là sự phát triển từ chủ trương “văn hóa cho mọi người” trước đây, thể hiện rõ định hướng công bằng và bao trùm trong phát triển văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa đô thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi vẫn còn đáng kể; nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa thiếu thiết chế văn hóa cơ bản hoặc điều kiện tiếp cận các sản phẩm văn hóa chất lượng. Việc đưa mục tiêu thu hẹp chênh lệch này vào Văn kiện thể hiện sự quan tâm của Đảng đến công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa, phù hợp với tinh thần của Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, đặt mục tiêu đến năm 2030 có 75% người dân vùng sâu, vùng xa được tham gia các hoạt động văn hóa, tiếp cận các kênh phát thanh, truyền hình quốc gia và địa phương.

Những nội dung trên là những tài liệu quý báu để giảng viên và học viên hiểu biết sâu sắc hơn về những chủ trương, đường lối, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá. Đồng thời, giúp học viên nắm vững được nội hàm cũng như tính chất của nền văn hoá Việt Nam, từ đó có định hướng xây dựng và phát triển văn hoá tại địa phương gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Thứ tư, về giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Mục 3.3).

Khi đánh giá về văn hóa, Đảng ta chỉ rõ “Cùng với những thành tựu đã đạt được, trong lĩnh vực văn hóa vẫn còn những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém”.

Vì vậy, khi phân tích nội dung ở Phần III. Quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay, giảng viên làm rõ và viện dẫn nội dung hạn chế, bất cập mà Văn kiện Đại hội XIV đã chỉ ra để học viên liên hệ tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Đồng thời, học viên nhận thức được nội dung, tầm quan trọng việc xây dựng, phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Cần “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hóa; phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa số” [1, tr.28].

Đối với cán bộ làm công tác văn hóa thì “Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý về văn hóa và phát triển con người. Chăm lo đội ngũ văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa, nhất là văn hóa cơ sở…”;Chú trọng phát triển văn hóa chính trị. Phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa khởi nghiệp sáng tạo và đạo đức doanh nhân”

Đây sẽ là những định hướng quan trọng để các cấp, các ngành, các địa phương đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể phù hợp với thực tiễn ở địa phương mình, nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu phát triển văn hoá đã đặt ra trên từng địa bàn nhất định, đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng văn hóa đạo đức trong Đảng.

Kết luận

Nghiên cứu, vận dụng các nội dung về văn hóa của Văn kiện Đại hội XIV vào giảng dạy nội dung Xây dựng, phát triển văn hóa trong bài “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam” trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị không những góp phần nâng cao chất lượng bài giảng mà còn góp phần lan tỏa, tuyên truyền nội dung “xây dựng, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” trong Văn kiện đến từng cơ quan, đơn vị, học viên. Đồng thời, giúp cho giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, học viên có phương pháp thực tiễn để bảo vệ, phát triển và hội nhập văn hóa một cách hiệu quả, qua đó đóng góp vào việc giữ gìn, vun đắp nền văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, xây dựng quốc gia văn hiến, anh hùng, góp phần phát huy những gía trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam để xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, HN.

2. Phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24/11/1946.

3. Nguyễn Phú Trọng (2024), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, H.

 


Các tin khác

Tin ảnh nổi bật